
Xuất khẩu gạo. Ảnh minh họa
Xuất khẩu gạo bật tăng trong tháng 4 nhưng doanh nghiệp vẫn mắc kẹt vì hợp đồng giá thấp
Theo số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam, tháng 4/2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 1.107.362 tấn, trị giá 513,94 triệu USD, tăng 9,8% về lượng và tăng 7,4% về trị giá so với tháng trước. Đây là tháng ghi nhận tín hiệu phục hồi rõ nét sau giai đoạn giao dịch trầm lắng đầu năm.
Tuy nhiên, tính chung 4 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo cả nước mới đạt 3,373 triệu tấn, tương đương 1,58 tỷ USD, giảm 1,4% về khối lượng nhưng giảm tới 10,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Điều này phản ánh nghịch lý của ngành gạo Việt Nam trong năm nay: Lượng hàng xuất đi vẫn lớn nhưng giá trị thu về sụt giảm mạnh do phần lớn hợp đồng được ký từ sớm với mức giá thấp, trước khi thị trường tăng trở lại.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), thị trường lúa gạo toàn cầu hiện vẫn chịu tác động mạnh từ xung đột địa chính trị, giá năng lượng cao và chi phí logistics neo ở mức lớn, khiến hoạt động mua bán quốc tế trở nên thận trọng hơn. Dù giao dịch tại châu Á đang sôi động trở lại trong đầu tháng 5, giá gạo thế giới vẫn biến động trái chiều và chưa xác lập xu hướng ổn định do cung – cầu còn giằng co mạnh.
Tại thị trường nội địa, giá lúa gạo ngày 6/5 ở Đồng bằng sông Cửu Long biến động nhưng giao dịch chậm. Nguồn cung lúa hàng hóa sau vụ Đông Xuân không còn nhiều do nông dân đã bán phần lớn sản lượng từ sớm, trong khi vụ mùa năm nay được cho là thất mùa, năng suất không cao, ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập người trồng lúa.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đang tăng giảm trái chiều. Theo VFA, gạo 5% tấm thường hiện dao động 398 – 402 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 513 – 517 USD/tấn, tăng 17 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 310 – 335 USD/tấn, giảm 2 USD/tấn; còn gạo thơm 5% tấm phổ biến trong khoảng 510 – 520 USD/tấn.
Trong khi đó, Thái Lan ghi nhận giá gạo 5% tấm tăng 3 USD/tấn, lên mức 396 – 400 USD/tấn; gạo cùng loại của Ấn Độ tăng 1 USD/tấn, lên 346 – 350 USD/tấn; Pakistan chào bán ở mức 350 – 354 USD/tấn. Mặt bằng giá này cho thấy gạo Việt Nam tiếp tục giữ lợi thế ở nhóm gạo thơm, chất lượng cao, song áp lực cạnh tranh ở phân khúc phổ thông vẫn rất lớn.
Ông Nguyễn Văn Đôn, Giám đốc Công ty TNHH Việt Hưng cho biết, nguyên nhân chính khiến kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm giảm trên 10% là do các doanh nghiệp đã ký hợp đồng xuất khẩu trước khi giá lúa gạo nội địa tăng mạnh. Trong giai đoạn đầu vụ Đông Xuân, nhiều doanh nghiệp chốt giá bán chỉ từ 390 – 450 USD/tấn đối với các dòng gạo thơm phổ biến như OM5451, OM18, DT8.
Sau khi ký bán xong, giá gạo trong nước lại tăng lên quanh mức 500 USD/tấn, thậm chí chạm mức 520 USD/tấn. Điều này khiến doanh nghiệp rơi vào thế khó vì giá xuất khẩu đã ký không thể điều chỉnh với khách hàng quốc tế, trong khi giá thu mua trong nước tăng cao.
Theo ông Đôn, “nói giá gạo đang lên nhưng thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng ký được ở mức 500 – 520 USD/tấn. Có giá chào bán, nhưng giao dịch thực tế không nhiều. Doanh nghiệp chủ yếu đang phải xoay xở để thực hiện các hợp đồng cũ đã ký giá thấp”.
Không chỉ chịu áp lực từ chênh lệch giá, nhiều doanh nghiệp còn đối mặt với tình trạng nhà cung ứng nội địa “bẻ kèo”, hủy hợp đồng khi giá thị trường tăng. Trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu không thể hủy hợp đồng với đối tác nước ngoài nếu không muốn mất uy tín, chịu phạt hoặc đối diện tranh chấp pháp lý. Nhiều vụ việc nhà cung ứng bẻ kèo doanh nghiệp xuất khẩu đã phải đưa ra tòa xử lý.
Đây là điểm yếu lớn trong chuỗi cung ứng lúa gạo hiện nay: Doanh nghiệp xuất khẩu chịu rủi ro kép khi vừa thiếu nguồn hàng do nhà cung ứng bẻ kèo, vừa phải gánh trách nhiệm quốc tế, còn nông dân lại ít được hưởng lợi từ giai đoạn giá tăng vì phần lớn đã bán lúa sớm sau thu hoạch.
Philippines sẽ nhập khẩu 5 triệu tấn gạo trong năm nay
Về thị trường tiêu thụ, Philippines tiếp tục là khách hàng lớn nhất và đang đóng vai trò quyết định đối với nhịp tăng giá gạo Việt Nam. Theo Chủ tịch VFA Đỗ Hà Nam, Philippines ban đầu dự kiến chỉ nhập khoảng 300.000 tấn trong những tháng đầu năm, nhưng thực tế đến nay đã mua gần 1,5 triệu tấn.
Nếu không có thay đổi lớn, nước này có thể nhập khoảng 2 triệu tấn trong 6 tháng đầu năm và lên tới 5 triệu tấn trong cả năm 2026, vượt xa kế hoạch ban đầu chỉ 3 – 4 triệu tấn. Nguyên nhân là dân số tăng, sản xuất lương thực nội địa không đáp ứng đủ nhu cầu, trong khi chi phí sản xuất trong nước cao khiến nhập khẩu trở thành lựa chọn kinh tế hơn.
Tuy nhiên, Philippines vẫn nổi tiếng là thị trường ép giá mạnh, thường chờ giá xuống thấp mới mua nhưng khi lo ngại thiếu hụt nguồn cung hoặc biến động địa chính trị, nước này lại đẩy mạnh mua vào, khiến giá bật tăng nhanh.
Ngoài Philippines, thị trường châu Phi vẫn duy trì nhập khẩu khá đều đặn đối với gạo Việt Nam, đặc biệt ở một số đơn hàng giá cao. Trong khi đó, Trung Quốc hiện giảm mua do nước này có chính sách dự trữ tốt và chỉ nhập mạnh khi giá thế giới xuống thấp hoặc ở mức trung bình.
Theo các doanh nghiệp, nguồn cung lúa hàng hóa trong nước hiện khá hạn chế. Nếu vụ Hè Thu giảm diện tích vì chi phí đầu vào cao, nguồn cung xuất khẩu trong thời gian tới có thể còn thắt chặt hơn. Điều này có thể hỗ trợ giá cho mặt hàng lúa gạo trong nước.
Các chuyên gia cho rằng ngành gạo Việt Nam đang đứng trước bài toán không chỉ là bán được nhiều, mà quan trọng hơn là bán đúng thời điểm, đúng giá và xây dựng chuỗi liên kết đủ mạnh để giảm rủi ro đứt gãy hợp đồng. Trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động mạnh, năng lực dự báo, quản trị rủi ro giá và kiểm soát chuỗi cung ứng sẽ quyết định hiệu quả thực sự của xuất khẩu gạo, thay vì chỉ nhìn vào sản lượng.

