Một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng được xác định tại Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22-8-2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, là: “Toàn xã hội có trách nhiệm chăm lo, tham gia đóng góp nguồn lực và giám sát phát triển giáo dục”. Quán triệt tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chỉ ra phương châm giáo dục hiện nay là: “Lấy người học làm trung tâm, nhà trường làm nền tảng, thầy cô giáo làm động lực, gia đình là điểm tựa và xã hội là nguồn lực đồng hành”.
![]() |
| Giờ thực hành của sinh viên Đại học Phenikaa. Ảnh: KHÁNH HÀ |
Giáo dục là nền tảng của sự phát triển con người và xã hội, là một trong những động lực góp phần quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc nhấn mạnh “nguồn lực xã hội là đồng hành” trong phương châm giáo dục có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động sức mạnh của toàn xã hội cùng tham gia vào sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
“Nguồn lực xã hội là đồng hành” trong giáo dục là khai thác, huy động mọi tiềm năng trong xã hội và phát huy sức mạnh của các giai tầng, thành phần trong xã hội cùng tham gia, cùng chia sẻ, cùng tạo ra giá trị và cùng góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển. Khi khẳng định phương châm “nguồn lực xã hội là đồng hành” cũng hàm ý nhấn mạnh nhà trường không thể tách khỏi xã hội, mà giáo dục cần mở rộng không gian phát triển từ lớp học đến gia đình, cộng đồng, doanh nghiệp và gắn bó mật thiết với mọi lĩnh vực của đời sống.
Sự đồng hành của xã hội trước hết xuất phát từ bản chất của giáo dục. Mục tiêu của giáo dục không dừng lại ở việc giảng dạy, truyền đạt, nâng cao kiến thức văn hóa, khoa học cho người học, mà còn rèn luyện, bồi đắp, xây dựng, phát triển nhân cách con người có phẩm chất đạo đức, kỹ năng, năng lực, trách nhiệm xã hội và khả năng thích ứng với cuộc sống. Thiết chế nhà trường, gia đình có vai trò nền tảng, điểm tựa rất quan trọng trong việc kiến tạo môi trường hình thành phẩm chất, năng lực cho học sinh, sinh viên, nhưng xã hội mới là không gian rộng lớn để hoàn thiện nhân cách toàn diện cho người học. Sự gắn kết giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong giáo dục là thế chân kiềng vững chắc cho sự phát triển hài hòa, tiến bộ của người học.
Nếu trước đây, môi trường giáo dục thường khép kín trong không gian nhà trường, gia đình và chủ yếu dừng lại ở mối quan hệ thầy-trò, cha mẹ-con cái, thì ngày nay một đứa trẻ lớn lên còn chịu sự tác động, ảnh hưởng của rất nhiều mối quan hệ xã hội và môi trường xã hội. Một giờ học về đạo đức và giáo dục công dân sẽ khó trở nên ý nghĩa nếu những giá trị được giảng dạy trong nhà trường lại không được củng cố trong gia đình và xã hội. Một bài học về kỹ năng sống sẽ khó trở thành năng lực giải quyết vấn đề hiệu quả nếu học sinh không có cơ hội trải nghiệm, rèn luyện trong thực tế. Một bài học về lịch sử sẽ trở nên kém thú vị nếu học sinh không được gắn kết với những chuyến tham quan về nguồn thăm các di tích lịch sử-văn hóa của địa phương và đất nước.
Sự đồng hành của xã hội tạo thêm những nguồn lực giúp nhà trường thực hiện hiệu quả hơn sự nghiệp “trồng người”. Một doanh nhân thành đạt có thể hỗ trợ kinh phí tạo điều kiện cho nhà trường đầu tư mua sắm thêm trang thiết bị dạy học, mở rộng không gian học tập, rèn luyện, vui chơi, giải trí lành mạnh cho học sinh. Một tổ chức xã hội có thể hỗ trợ, cung cấp nhiều suất học bổng thiết thực cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Trong thời đại chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, khoảng cách giữa kiến thức trong sách giáo khoa và yêu cầu thực tế của đời sống ngày càng phải được thu hẹp. Điều đó chỉ có ý nghĩa khi phát huy hiệu quả nguồn lực, sức mạnh to lớn của xã hội đối với sự phát triển của giáo dục; đồng thời bảo đảm cho lĩnh vực giáo dục luôn gắn kết chặt chẽ hơn với nhiệm vụ, yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, nếu nhìn nguồn lực xã hội chỉ ở phạm vi, góc độ tài chính, chúng ta sẽ bỏ qua các nguồn lực quan trọng khác là trí tuệ và kinh nghiệm của cộng đồng. Một chuyên gia có thể góp phần bồi đắp tư duy cho người học thông qua cung cấp nhiều tri thức văn hóa, khoa học bổ ích bên ngoài trang sách giáo khoa, giáo trình. Một doanh nghiệp có thể chia sẻ câu chuyện khởi nghiệp và mang đến công nghệ, môi trường thực hành nghề nghiệp cho sinh viên. Một cựu học sinh thành đạt có thể trở lại nhà trường nói chuyện, truyền cảm hứng cho thế hệ đi sau biết lựa chọn con đường lập thân, lập nghiệp phù hợp, hiệu quả. Một người thợ giỏi có thể giúp học sinh, sinh viên tiếp cận, nắm vững kỹ năng và giá trị lao động để có nguồn thu nhập ổn định. Một bác sĩ tài năng có thể giúp học sinh, sinh viên nâng cao kiến thức phòng, chống bệnh tật, dinh dưỡng học đường, kỹ năng rèn luyện thân thể, bảo vệ sức khỏe bản thân và giảm những áp lực căng thẳng trong học tập, cuộc sống. Khi những nguồn lực ấy được kết nối với nhà trường một cách phù hợp, giáo dục không còn giới hạn trong khuôn viên trường lớp, mà trở thành quá trình học tập liên tục, rộng mở, thiết thân với cuộc sống, xã hội.
Khi nói đến “nguồn lực xã hội là đồng hành”, cần tránh tình trạng huy động quá sức nguồn lực xã hội, đồng thời khắc phục các biểu hiện thương mại hóa giáo dục. Huy động nguồn lực xã hội không có nghĩa là Nhà nước giảm trách nhiệm đầu tư hay người học phải tự đóng góp nhiều chi phí để có được sự tiếp cận một nền giáo dục tốt. Nếu để cơ chế thị trường len lỏi vào mọi ngóc ngách của giáo dục, mục tiêu bảo đảm công bằng trong giáo dục sẽ khó thành hiện thực. Nếu thiếu cơ chế quản lý minh bạch, việc huy động nguồn lực xã hội có thể dẫn đến những hệ quả ngoài mong muốn. Nếu nhà trường đặt ra nhiều khoản đóng góp không hợp lệ sẽ tạo áp lực cho phụ huynh. Tình trạng lạm thu xảy ra ở một số trường dịp đầu năm học trong thời gian qua đã phản ánh mặt trái của việc huy động nguồn lực xã hội. Nếu nguồn hỗ trợ của doanh nghiệp, doanh nhân gắn với quyền chi phối hoạt động giáo dục thì lợi ích của người học có thể bị đặt sau lợi ích của nhà tài trợ.
Giáo dục là một trong những quyền cơ bản của con người đã được hiến định. Do đó, Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm cơ hội học tập, nhất là đối với trẻ em nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và các nhóm yếu thế trong xã hội. Việc huy động, điều phối các nguồn lực xã hội cho giáo dục phải được tính toán hợp lý, công bằng, ưu tiên cho các đối tượng, vùng, miền còn nhiều khó khăn. Muốn vậy, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị: “Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, kiến tạo phát triển, bảo đảm nguồn lực và công bằng trong giáo dục; bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân”.
Có thể nói rằng, “nguồn lực xã hội là đồng hành” không chỉ là một phương thức huy động, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thành phần xã hội đối với giáo dục, mà còn là sự ứng xử đầy trách nhiệm, nhân văn đối với sứ mệnh “Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Khi sự đồng hành của xã hội thể hiện rõ ràng bằng trách nhiệm, bằng tri thức, bằng vật chất, bằng kinh nghiệm và trên hết là bằng niềm tin vào thế hệ tương lai, thì đó là động lực, sức mạnh quan trọng góp phần xây dựng, phát triển một nền giáo dục chất lượng, hiện đại, bền vững.



