Tăng tốc chuẩn bị cho lộ trình sử dụng xăng E10 từ ngày 1-6 trên toàn quốc
Ngày 26-2-2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg về việc đẩy mạnh sản xuất, phối trộn, phân phối và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.
Trước đó, Bộ Công Thương cũng ban hành Thông tư số 50/2025/TT-BCT quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam. Theo lộ trình này, việc triển khai sử dụng xăng sinh học E10 (phối trộn 90% xăng khoáng với 10% cồn ethanol) trên toàn thị trường sẽ chính thức bắt đầu từ ngày 1-6-2026. Từ thời điểm thông tư có hiệu lực đến khi áp dụng rộng rãi có khoảng 6 tháng để các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu chuẩn bị các điều kiện cần thiết như nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, chuẩn bị nguồn ethanol và sắp xếp lại hệ thống pha chế, phân phối, qua đó bảo đảm quá trình chuyển đổi được thực hiện thuận lợi và đồng bộ.
![]() |
Người dân đổ xăng E10 tại cửa hàng trên phố Thái Thịnh, Hà Nội. Ảnh: TUYẾT LAN |
Theo ông Đỗ Minh Quân, chuyên viên chính Phòng Quản lý kinh doanh xăng dầu và khí (Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương), lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học được xây dựng dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản: Khả thi, triển khai từng bước và phù hợp với điều kiện thực tế của thị trường. Mục tiêu quan trọng nhất là nâng cao tỷ lệ sử dụng nhiên liệu sinh học, giảm dần sự phụ thuộc vào xăng khoáng, đồng thời tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước.
Nhiên liệu sinh học mang lại nhiều lợi ích cả về môi trường và kinh tế. Với tỷ lệ phối trộn 90% xăng khoáng với 10% cồn ethanol như xăng E10, Việt Nam có thể giảm đáng kể mức độ phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, đồng thời tận dụng nguồn nguyên liệu nông nghiệp trong nước. Theo ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, nếu mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 26 triệu mét khối xăng dầu thì chỉ cần phối trộn 10% ethanol cũng có thể thay thế một lượng lớn nhiên liệu hóa thạch.
Trong tương lai, khi chương trình mở rộng lên các tỷ lệ cao hơn như E15 hoặc E20, hiệu quả giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu sẽ càng rõ rệt. Thêm vào đó, theo ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, việc phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch mà còn tạo cơ hội cho ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến. Khi thị trường ethanol được mở rộng và các nhà máy hoạt động trở lại, nhu cầu nguyên liệu đầu vào như ngô và sắn sẽ tăng lên, từ đó hình thành các vùng nguyên liệu ổn định và bền vững.
Từ phía doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh xăng dầu lớn đã chủ động chuẩn bị cho giai đoạn chuyển đổi. Ông Hồ Ngọc Linh, Phó trưởng phòng Kỹ thuật xăng dầu của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), cho biết, ngay từ tháng 8-2025, doanh nghiệp đã triển khai thí điểm kinh doanh xăng E5 và E10 tại TP Hồ Chí Minh. Đồng thời, Tập đoàn cũng đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất phục vụ pha chế, phối trộn nhiên liệu sinh học. Hiện Petrolimex có 7 điểm kho đủ điều kiện pha chế xăng E10 trên toàn quốc. Với mạng lưới hơn 2.800 cửa hàng xăng dầu, Tập đoàn đã tiến hành xúc rửa bể chứa, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và xây dựng lộ trình chuyển đổi phù hợp.
Bên cạnh việc đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp cũng tích cực học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Nhiều đoàn công tác đã được cử đến Thái Lan, Philippines, Hoa Kỳ và một số quốc gia khác để nghiên cứu mô hình tổ chức kinh doanh, vận chuyển và kiểm soát chất lượng nhiên liệu sinh học. Theo các chuyên gia, kinh nghiệm tích lũy từ việc triển khai xăng E5 trước đây là nền tảng quan trọng để thị trường Việt Nam sẵn sàng bước sang giai đoạn sử dụng xăng E10 trên phạm vi toàn quốc.
Kết nối nông nghiệp với chiến lược năng lượng quốc gia
Bên cạnh chính sách và hạ tầng kỹ thuật, khả năng chủ động nguồn nguyên liệu sản xuất ethanol được xem là yếu tố then chốt đối với chương trình phát triển nhiên liệu sinh học. Việt Nam hiện có 6 nhà máy sản xuất cồn nhưng chỉ khoảng 3 nhà máy đang hoạt động và chưa vận hành hết công suất. Nếu tất cả nhà máy hoạt động tối đa, sản lượng ethanol có thể đạt khoảng 400.000-500.000m³ mỗi năm, tương đương khoảng 40% nhu cầu trong nước. Điều này đồng nghĩa với việc trong giai đoạn đầu, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 60% nhu cầu ethanol.
Ở góc độ doanh nghiệp sản xuất ethanol, ông Phạm Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH MTV Nhà Xanh Việt Nam cho biết, nhà máy sản xuất cồn của doanh nghiệp tại Đồng Nai có công suất thiết kế khoảng 6.000-7.000m³ mỗi tháng, trong đó khoảng một nửa sản lượng được sử dụng để sản xuất cồn pha xăng. Để bảo đảm nguồn cung nguyên liệu, doanh nghiệp áp dụng chiến lược linh hoạt giữa hai loại nguyên liệu chính là ngô và sắn. Trong đó, sắn chủ yếu được thu mua trong nước, còn ngô được kết hợp giữa nguồn nội địa và nhập khẩu.
Theo các chuyên gia, về lâu dài, việc xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa doanh nghiệp, nông dân và địa phương sẽ là yếu tố then chốt để phát triển ngành nhiên liệu sinh học. Khi các nhà máy ethanol hoạt động ổn định, nông dân không chỉ là người cung cấp nguyên liệu mà còn trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị.
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng của nền kinh tế ngày càng gia tăng, việc tìm kiếm và phát triển các nguồn năng lượng thay thế đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, việc triển khai đồng bộ chương trình xăng sinh học không chỉ giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu mà còn thúc đẩy sự liên kết giữa nông nghiệp và công nghiệp chế biến, tạo thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế và từng bước củng cố vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.


