Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Hình thành chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi: Động lực cho kinh tế biển

Hình thành chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi nội địa là giải pháp chiến lược giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ và hạ tầng kinh tế biển.

Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã xác định các định hướng chiến lược trọng yếu để phát triển kinh tế biển bền vững.

Nhằm làm rõ vai trò của các trung tâm năng lượng tái tạo ven biển trong việc hiện thực hóa định hướng này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC).

Ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC).

Ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC).

Hiện thực hóa mục tiêu quốc gia từ chuỗi cung ứng

- Nghị quyết 20-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Theo ông, việc hình thành các trung tâm năng lượng tái tạo tại khu vực ven biển có vai trò như thế nào trong việc hiện thực hóa mục tiêu này?

Ông Bùi Vĩnh Thắng: Nhìn từ mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, vai trò của các trung tâm năng lượng tái tạo ven biển là tạo ra nền tảng để hình thành chuỗi cung ứng và năng lực công nghiệp phục vụ các ngành kinh tế biển mới, đặc biệt là điện gió ngoài khơi.

Điện gió ngoài khơi là ngành công nghiệp có chuỗi cung ứng rộng lớn. Một dự án ngoài khơi không chỉ cần turbine hay nền móng, mà đòi hỏi hệ thống cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, khảo sát biển, chế tạo và lắp ráp, cáp điện, kết cấu thép, xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, dịch vụ kỹ thuật, cùng nguồn nhân lực chuyên ngành.

Vì vậy, nếu phát triển các trung tâm năng lượng tái tạo ở vị trí phù hợp về hạ tầng cảng biển, giao thông, công nghiệp và không gian biển, các trung tâm này có thể trở thành trung tâm chuỗi cung ứng cho ngành điện gió ngoài khơi Việt Nam.

Điều này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết về kinh tế biển. Nghị quyết không nhìn kinh tế biển qua từng ngành riêng lẻ, mà đặt vấn đề hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ, logistics, năng lượng và đổi mới sáng tạo gắn với lợi thế từng vùng; đồng thời phát triển công nghiệp hỗ trợ và các trung tâm cơ khí chuyên ngành phục vụ năng lượng ngoài khơi.

Khi đó, trung tâm ven biển sẽ giúp giữ lại một phần giá trị của các dự án điện gió ngoài khơi cho nền kinh tế trong nước, biến lợi thế về tài nguyên gió ngoài khơi thành năng lực công nghiệp và dịch vụ biển nội địa. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc vận hành các trang trại điện gió, mà là hình thành một ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi hoàn chỉnh.

Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ

- Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, định hướng phát triển các trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng đã được đề ra. Theo ông, mô hình này cần được thiết kế ra sao để tạo thành một hệ sinh thái đồng bộ?

Ông Bùi Vĩnh Thắng: Trước hết, cần làm rõ rằng việc sản xuất điện thuộc chức năng của các nhà máy điện. Các trung tâm năng lượng tái tạo nêu trên là trung tâm công nghiệp nằm trong chuỗi cung ứng của ngành, cụ thể là điện gió ngoài khơi, chứ không phải nơi đặt nhà máy phát điện. Tuy nhiên, các trung tâm này nên được bố trí gần khu vực có tiềm năng điện gió ngoài khơi để tối ưu hóa hiệu quả cung cấp dịch vụ và chuỗi cung ứng.

Do đó, việc quy hoạch trung tâm phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của điện gió ngoài khơi, không chỉ dựa trên việc có quỹ đất ven biển. Một trung tâm chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi cần bảo đảm bốn nhóm chức năng cơ bản:

Thứ nhất, hạ tầng cảng và logistics chuyên dụng. Đây là chức năng cốt lõi, bảo đảm khả năng tiếp nhận, lưu kho, vận chuyển, tiền lắp ráp, điều phối các cấu kiện siêu trường, siêu trọng và hỗ trợ các đội tàu dịch vụ ngoài khơi.

Thứ hai, khu vực công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật. Nơi các doanh nghiệp trong nước và quốc tế đặt cơ sở sản xuất, lắp ráp, sửa chữa và cung cấp dịch vụ phụ trợ.

Thứ ba, trung tâm dịch vụ chuyên môn và phát triển nguồn nhân lực. Ngành này đòi hỏi hệ sinh thái dịch vụ đa dạng từ khảo sát, kỹ thuật, quản lý dự án, an toàn, môi trường, hàng hải đến vận hành và bảo dưỡng. Vì vậy, việc đào tạo nhân lực cần gắn liền với hoạt động của trung tâm.

Thứ tư, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trung tâm đóng vai trò kết nối giữa các nhà phát triển dự án, nhà cung cấp công nghệ quốc tế với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học trong nước.

Các cấu phần này không hoạt động độc lập mà kết nối chặt chẽ: Cảng phục vụ công nghiệp; công nghiệp phục vụ dự án; logistics kết nối cảng với công trường ngoài khơi; đào tạo và nghiên cứu - phát triển (R&D) đáp ứng nhu cầu thực tế của chuỗi cung ứng.

Nguyên tắc quan trọng là quy hoạch chuỗi cung ứng phải dựa trên quy mô các dự án cụ thể. Điều kiện tiên quyết để phát triển ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi là phải có các dự án đủ lớn và một thị trường phát triển ổn định, dài hạn. Việc xác định rõ nhu cầu về dịch vụ, công suất cảng, chủng loại tàu, năng lực chế tạo và nhân lực trong tương lai sẽ quyết định quy mô, chức năng của từng trung tâm.

- Nghị quyết 20-NQ/TW đặt vấn đề nâng cao năng lực làm chủ khoa học, công nghệ biển. Các trung tâm năng lượng tái tạo cần đóng vai trò như thế nào trong việc giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ điện gió ngoài khơi, chế tạo thiết bị, vận hành và bảo dưỡng, thưa ông?

Ông Bùi Vĩnh Thắng: Các trung tâm năng lượng tái tạo chính là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia vào chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, tích lũy năng lực và làm chủ công nghệ.

Doanh nghiệp trong nước có thể bắt đầu từ các lĩnh vực như hạ tầng cảng, logistics, khảo sát biển, xây dựng, lắp đặt, chế tạo kết cấu thép, dịch vụ hàng hải, vận hành, bảo dưỡng và cung cấp vật tư. Khi đạt được kinh nghiệm và quy mô thị trường, doanh nghiệp sẽ tiến tới các phân khúc có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao hơn.

Công nghệ không chỉ được chuyển giao qua hợp đồng hay tài liệu thuần túy. Phần lớn năng lực thực tế được hình thành qua quá trình trực tiếp tham gia dự án, vận hành thiết bị, xử lý các vấn đề kỹ thuật và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Do đó, mỗi trung tâm cần xây dựng cơ chế thúc đẩy sự hợp tác thực chất giữa doanh nghiệp Việt Nam với các nhà phát triển dự án và nhà cung cấp công nghệ quốc tế. Khi đánh giá hiệu quả của các trung tâm năng lượng tái tạo, bên cạnh khả năng thu hút đầu tư, số lượng nhà máy hay năng lực sản xuất, cần chú trọng đến tỷ lệ tham gia vào chuỗi giá trị và khả năng làm chủ công nghệ của các doanh nghiệp nội địa.

Định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gắn với chuyển giao công nghệ cũng đã được nêu rõ tại Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Để hiện thực hóa định hướng này, việc hoàn thiện bộ khung chính sách đồng bộ, kết nối giữa năng lượng, công nghiệp và khoa học - công nghệ là yêu cầu thiết yếu.

- Xin cảm ơn ông!

Việc hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo ven biển không chỉ giải quyết bài toán cung ứng nguồn điện sạch mà còn tạo nền tảng vững chắc hình thành chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi nội địa. Đây là hướng đi quan trọng nhằm cụ thể hóa định hướng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, nâng cao năng lực công nghiệp và làm chủ công nghệ biển trong thời kỳ mới.

Thanh Thuỳ

Tin liên quan