Đây là hướng dẫn mới về rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031 trong khối Chính phủ và UBND các cấp.
Xác định nhu cầu nhân lực theo từng vị trí và từng phần việc, không sử dụng một phương pháp chung cho cả đơn vị
Theo hướng dẫn, đơn vị sự nghiệp công lập kế thừa các dữ liệu đã có làm cơ sở đưa vào hệ thống biểu nghiệp vụ, gồm các nhóm: Kết quả rà soát chức năng, nhiệm vụ; danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc, khung năng lực đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; nhiệm vụ, quy trình nghiệp vụ được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của ngành, lĩnh vực và quy chế, quy trình của đơn vị.
![]() |
Ảnh minh họa: chinhphu.vn |
Trên cơ sở các quy định hiện hành về định mức chuyên ngành (định mức số người làm việc, định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức lao động), các đơn vị sự nghiệp công lập chủ động xác định nhu cầu nhân lực theo từng vị trí và từng phần việc, không sử dụng một phương pháp chung cho cả đơn vị. Trường hợp chưa có quy định về định mức chuyên ngành, bộ, ngành, địa phương chủ động xác định nhu cầu nhân lực trên cơ sở nhiệm vụ, công việc, sản phẩm, khối lượng, tần suất, mức độ phức tạp, chất lượng, thời gian, địa bàn, điều kiện thực hiện và năng lực cần thiết.
Bộ Nội vụ nhấn mạnh, việc xác định vị trí việc làm, nhu cầu nhân lực và quản lý biên chế phải bám sát các nguyên tắc nêu tại Kết luận số 107-KL/TW và Kết luận số 40-KL/TW của Bộ Chính trị, Hướng dẫn số 7-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Các bộ, ngành, địa phương khi thực hiện việc rà soát, xác định vị trí việc làm viên chức, sản phẩm và nhu cầu nhân lực cần bảo đảm phù hợp ngành, lĩnh vực, quy mô hoạt động, định mức chuyên môn, điều kiện cung ứng dịch vụ và mức độ tự chủ. Đặc biệt, không đồng nhất tự chủ tài chính với việc không còn phải quản lý số người làm việc.
Nhu cầu nhân lực và phương án sử dụng biên chế giai đoạn 2027-2031 được lập theo từng năm
Bộ Nội vụ cũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương lưu ý thêm một số nội dung đối với khối đơn vị sự nghiệp công lập. Trong đó, lưu ý đối chiếu, hoàn thiện danh mục vị trí việc làm, bản mô tả và khung năng lực. Đối với đơn vị chưa hoàn thành phê duyệt danh mục vị trí việc làm theo Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, cần chủ động rà soát, xác định vị trí việc làm gắn với bậc nghề nghiệp cụ thể để làm cơ sở xác định khung năng lực. Đơn vị đã phê duyệt danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực thì kế thừa dữ liệu đã có, cập nhật những nội dung thay đổi.
Bên cạnh đó, cần xác định số người cần thiết theo từng vị trí việc làm. Nhu cầu nhân lực đối với cấp phó phải căn cứ quy định về cơ cấu tổ chức, bộ máy và số lượng cấp phó; không mặc nhiên áp dụng số lượng cấp phó tối đa. Người giữ vị trí quản lý vẫn thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ (như trưởng khoa trực tiếp phẫu thuật, hiệu trưởng trực tiếp giảng dạy...) thì nhân lực, vị trí việc làm, nhu cầu nhân lực chỉ tính một lần tại vị trí quản lý.
Cùng với đó, cần đối chiếu nguồn nhân lực hiện có và xây dựng phương án biên chế. Mỗi người được kê khai một lần tại vị trí chính, gắn với một mã nguồn lực duy nhất tại nơi quản lý chính. Nhu cầu nhân lực và phương án sử dụng biên chế giai đoạn 2027-2031 được lập theo từng năm, căn cứ quy mô dự báo, lộ trình tự chủ, thuê dịch vụ và biến động nhân lực.



