Trang thông tin điện tử tổng hợp
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Ứng dụng công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon, góp phần thực hiện mục tiêu Net Zero

Những nghiên cứu bước đầu về lưu trữ CO₂ ngoài khơi, kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí và nhu cầu chuyển đổi của các ngành công nghiệp mở ra triển vọng ứng dụng CO₂ trong sản xuất hóa chất, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, cũng như kết hợp thu giữ CO₂ với sản xuất hydro.

Phát biểu tại hội thảo “Công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS): Giải pháp thúc đẩy Net Zero tại Việt Nam” do báo Nông nghiệp và Môi trường và Cục Biến đổi khí hậu cùng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) vừa tổ chức tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên cho biết, thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đặt ra yêu cầu đổi mới sâu sắc đối với mô hình tăng trưởng, phương thức sản xuất và sử dụng tài nguyên của Việt Nam. Quá trình này cần gắn với bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo thêm động lực phát triển.

Vì vậy, các giải pháp giảm phát thải phải được lựa chọn trên cơ sở khoa học, tính khả thi và điều kiện thực tế. Những nghiên cứu bước đầu về lưu trữ CO₂ ngoài khơi, kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí và nhu cầu chuyển đổi của các ngành công nghiệp mở ra triển vọng ứng dụng CO₂ trong sản xuất hóa chất, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, cũng như kết hợp thu giữ CO₂ với sản xuất hydro.

Theo Thứ trưởng, mỗi hướng đi cần được đánh giá đầy đủ về điều kiện áp dụng, hiệu quả giảm phát thải và khả năng phát triển thị trường. Để chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc triển khai dự án CCUS trong thực tế, Thứ trưởng Lê Trọng Yên cho rằng cần tập trung làm rõ, xác định đúng vai trò và phạm vi ứng dụng của CCUS trong lộ trình giảm phát thải của Việt Nam. Cần làm rõ những ngành, loại hình cơ sở và nguồn phát thải nào có điều kiện phù hợp để ưu tiên nghiên cứu. Việc lựa chọn phải tính đến đặc điểm công nghệ sản xuất, nồng độ CO₂, quy mô và tính ổn định của nguồn thải; đồng thời xem xét khả năng áp dụng các giải pháp giảm phát thải khác. Đối với từng trường hợp, cần trả lời được CCUS đóng góp như thế nào vào mục tiêu giảm phát thải và khả năng duy trì sản xuất hiệu quả của doanh nghiệp.

Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon, góp phần thực hiện mục tiêu Net Zero. (Ảnh minh họa)

Cùng với đó cần làm rõ cơ sở khoa học, điều kiện công nghệ và yêu cầu an toàn trong toàn bộ chuỗi CCUS. Theo Thứ trưởng Lê Trọng Yên, các nghiên cứu về tiềm năng lưu trữ địa chất cần tiếp tục được cụ thể hóa bằng dữ liệu khảo sát, đánh giá khả năng tiếp nhận CO₂, tính ổn định của tầng chứa và điều kiện giám sát. Đối với hạ tầng dầu khí hiện có, cần đánh giá cụ thể khả năng chuyển đổi công năng, chất lượng công trình và yêu cầu bảo đảm an toàn trước khi đề xuất tận dụng.

Phát triển CCUS liên quan đến nhiều lĩnh vực, từ môi trường, địa chất, dầu khí đến công nghiệp, xây dựng và tài chính. Do đó, Thứ trưởng Lê Trọng Yên cho rằng cần rà soát các quy định pháp lý, đảm bảo tính thống nhất của các quy định, làm rõ trách nhiệm của các Bộ, cơ quan liên quan trong từng công đoạn.

Ông Lương Quang Huy, Trưởng Phòng Quản lý phát thải khí nhà kính (Cục Biến đổi khí hậu) thông tin, Việt Nam đang sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản liên quan, từng bước chuyển sang áp dụng quy định bắt buộc thông qua hạn ngạch phát thải. Các cơ sở nhiệt điện, sắt thép và xi măng đang được thí điểm hạn ngạch phát thải. Đây cũng là 3 nhóm cơ sở có tiềm năng ứng dụng công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) lớn tại Việt Nam.

Trong khi đó, TS. Nguyễn Hữu Lương, chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam chia sẻ về tiềm năng phát triển CCS/CCUS trong ngành dầu khí và lưu trữ CO2 ngoài khơi Việt Nam. Việt Nam sở hữu tiềm năng lưu trữ CO2 lớn tại 3 bể trầm tích chính gồm: bể Cửu Long, bể Nam Côn Sơn và bể Sông Hồng. Bên cạnh đó, Việt Nam còn nhiều lợi thế cho CCUS như: 34 mỏ dầu khí ngoài khơi đã được Petrovietnam đánh giá sơ bộ tiềm năng lưu trữ CO2. Năm 2011, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á bơm ép CO2 thành công tại mỏ Rạng Đông.

TS. Nguyễn Hữu Lương kiến nghị, cơ quan chức năng cần sớm ban hành hướng dẫn về quyền lưu trữ, trách nhiệm dài hạn, đo lường, báo cáo thẩm định carbon. Việc triển khai thí điểm giai đoạn 2027 - 2030 theo hướng đánh giá dung lượng chi tiết từng mỏ, bể, hướng tới phát triển mô hình hub lưu trữ trên thế giới.

Tại hội thảo, các đại biểu đã phân tích về định hướng quản lý phát thải khí nhà kính hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các đại biểu đánh giá về tiềm năng phát triển công nghệ CCS/CCUS trong ngành dầu khí cũng như các giải pháp lưu trữ CO₂ ngoài khơi. Đồng thời, làm rõ cơ hội tiếp cận dòng tài chính xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và kiến tạo hành lang pháp lý an toàn, minh bạch nhằm thúc đẩy CCUS, ông Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu cho rằng cần tập trung vào một số giải pháp trụ cột. Cụ thể, về hoàn thiện hệ thống pháp luật, cần sớm nghiên cứu, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến CCUS vào hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Cần thiết lập cơ chế đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) rõ ràng, ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia làm thước đo quản lý là nền tảng để xây dựng những chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng nhằm thu hút đầu tư tư nhân.

Về công nghệ và đào tạo, Nhà nước cần xây dựng cơ chế pháp lý khuyến khích chuyển giao công nghệ cao, ứng dụng các thành tựu khoa học tiên tiến trên thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam. Song song với đó, cần thể chế hóa cơ chế phối hợp giữa các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để chuẩn hóa chương trình đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, kỹ sư có đủ năng lực chuyên môn và am hiểu pháp luật quốc tế.

Về hợp tác quốc tế, ông Nguyễn Tuấn Quang đề nghị đẩy mạnh việc ký kết, gia nhập và thực thi các thỏa thuận quốc tế song phương, đa phương. Cần thiết lập khung hợp tác pháp lý vững chắc để tranh thủ nguồn lực tài chính, kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế, qua đó nội luật hóa các tiêu chuẩn toàn cầu và hỗ trợ Việt Nam hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Cục Biến đổi khí hậu sẽ tổng hợp, tiếp thu các ý kiến để hoàn thiện quy định pháp luật liên quan, trước mắt là Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi và tiến tới xây dựng Luật Biến đổi khí hậu.

Lan Anh

Tin liên quan