Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Tín dụng nông nghiệp nông thôn ĐBSCL – Bệ phóng thúc đẩy chuyển đổi kinh tế nông nghiệp vùng phát triển

Tính đến cuối tháng 7/2026, dư nợ tín dụng nông nghiệp, nông thôn tại 5 tỉnh/thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), gồm TP. Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang, Cà Mau và Đồng Tháp đạt 631.366 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng toàn vùng (1.191.067 tỷ đồng). Dòng vốn này đang tập trung dịch chuyển nhanh vào các lĩnh vực lúa chất lượng cao, thủy sản, công nghệ cao và sản xuất xanh.

Dòng vốn lớn, nhưng cuộc chơi đã thay đổi

ĐBSCL từ lâu được biết đến là trung tâm sản xuất lúa gạo, thủy sản và trái cây của cả nước. Nhưng lợi thế về sản lượng đang dần chuyển thành áp lực khi thị trường xuất khẩu đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát thải và tính bền vững.

Đó là lý do tín dụng nông nghiệp hôm nay không thể chỉ được đo bằng số tiền giải ngân. Thước đo quan trọng hơn là mỗi đồng vốn có giúp thay đổi phương thức sản xuất và nâng giá trị chuỗi nông sản hay không.

Số liệu thống kê tại thời điểm cuối tháng 7/2026 cho thấy dư nợ tín dụng nông nghiệp, nông thôn của 5 tỉnh, thành phố trong tài liệu đạt 631.366 tỷ đồng. Trong đó, An Giang đạt 160.865 tỷ đồng, Đồng Tháp đạt 150.987 tỷ đồng, TP Cần Thơ đạt 132.950 tỷ đồng, Vĩnh Long đạt 113.150 tỷ đồng và Cà Mau đạt 73.414 tỷ đồng. Tổng dư nợ tín dụng toàn địa bàn đạt 1.191.067 tỷ đồng.

Ở bình diện toàn vùng theo tổng hợp, dư nợ tín dụng đến tháng 7/2026 đạt khoảng 1.181.200 tỷ đồng, tăng 8,85% so với cuối năm 2025. Đáng chú ý, tín dụng dành cho lúa gạo và nông sản chủ lực tăng 11,22%; tín dụng thủy sản tăng 8,76%; trong khi tín dụng xanh và nông nghiệp công nghệ cao tăng tới 26,58%. Tỷ lệ nợ xấu nông nghiệp, nông thôn giảm từ 1,82% xuống 1,65%.

Những con số này cho thấy một chuyển động đáng chú ý dòng vốn không chỉ mở rộng về lượng mà bắt đầu thay đổi về chất.

Tín dụng xanh tăng nhanh nhất chính là tín hiệu của sự dịch chuyển đó. Vốn đang tìm đến các mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng kết hợp nuôi trồng thủy sản và chế biến sâu theo các tiêu chuẩn ESG.

image00220230718165933.jpeg

Dòng vốn tại ĐBSCL đang tập trung dịch chuyển nhanh vào các lĩnh vực lúa chất lượng cao, thủy sản, công nghệ cao và sản xuất xanh. Ảnh: Vneconomy

Lá chắn bảo hiểm phải đi cùng dòng vốn

Một vấn đề không thể né tránh là rủi ro khí hậu, ĐBSCL đang chịu tác động ngày càng rõ của hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, dịch bệnh và biến động thị trường. Khi một mùa vụ thất bại, người chịu thiệt đầu tiên là nông dân nhưng người chịu tác động tiếp theo chính là ngân hàng.

Theo thống kê ngành bảo hiểm cho thấy, doanh thu phí bảo hiểm nông nghiệp trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 18 tỷ đồng; tổng giá trị được bảo hiểm của các chương trình năm trước khoảng 7.800 tỷ đồng với hơn 19.000 hộ sản xuất và tổ chức tham gia. Tuy nhiên, so với quy mô sản xuất của ĐBSCL, độ bao phủ vẫn rất thấp.

Vì vậy, tín dụng và bảo hiểm nông nghiệp phải được thiết kế như hai bánh của cùng một chiếc xe. Khi bảo hiểm giúp chia sẻ rủi ro thiên tai, dịch bệnh, ngân hàng có cơ sở mạnh hơn để mở rộng tín dụng trung và dài hạn. Chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm, bảo hiểm chỉ số thời tiết và bảo hiểm dịch bệnh thủy sản vì thế không chỉ là chính sách an sinh; đó còn là chính sách giảm rủi ro tín dụng.

Cơ giới hóa phải được tài trợ theo dịch vụ, không chỉ theo máy móc: Một bài toán khác của nông nghiệp hiện đại là cơ giới hóa.

Năm 2025, cả nước có gần 57.800 máy kéo công suất lớn và hơn 35.400 máy gặt đập liên hợp. Riêng ĐBSCL, cơ giới hóa sản xuất lúa đã đạt mức cao ở nhiều khâu. Nhưng nếu máy móc không đi cùng vùng nguyên liệu đủ lớn, đường giao thông nội đồng, kho sấy, kho lạnh và logistics thì hiệu quả đầu tư sẽ bị hạn chế.

Do đó, tín dụng cũng cần chuyển từ mô hình “mỗi hộ vay mua một chiếc máy” sang tài trợ doanh nghiệp dịch vụ cơ giới hóa, HTX dịch vụ và trung tâm dịch vụ nông nghiệp vùng.

Một máy phục vụ hàng trăm hộ có hiệu suất sử dụng cao hơn nhiều so với một chiếc máy nằm trong sân nhà một hộ nông dân phần lớn thời gian trong năm. Đó là cách biến vốn tín dụng thành năng lực sản xuất dùng chung.

Đã đến lúc thiết kế lại “bản đồ tín dụng” ĐBSCL

ThS. Nguyễn Văn Hoàng, Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) Chi nhánh An Giang chia sẻ, ĐBSCL không thiếu vốn, vấn đề là cấu trúc dòng vốn chưa theo kịp cấu trúc nền kinh tế nông nghiệp mới. Muốn vốn thực sự trở thành bệ phóng, chính sách tín dụng giai đoạn tới cần tập trung vào ít nhất bốn hướng, sau.

Một là, tăng tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn cho kho lạnh, logistics, chế biến sâu, cơ giới hóa, công nghệ sau thu hoạch và vùng nguyên liệu.

Hai là, phát triển tín dụng theo chuỗi, lấy doanh nghiệp đầu đàn và HTX làm đầu mối tổ chức dòng tiền; tăng cường giải ngân số, thanh toán không tiền mặt và kiểm soát dòng tiền qua tài khoản.

Ba là, hình thành cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, ngân hàng, bảo hiểm, doanh nghiệp và người sản xuất. Tài liệu đề xuất nghiên cứu Quỹ bảo lãnh tín dụng nông nghiệp, hỗ trợ phí bảo hiểm và các cơ chế tín dụng ưu đãi cho sản xuất xanh.

Bốn là, xây dựng tiêu chuẩn tín dụng xanh cho nông nghiệp, để ngân hàng có thể phân biệt rõ một dự án thực sự giảm phát thải với một dự án chỉ gắn nhãn “xanh”. Đây cũng là điều kiện để dòng vốn xanh gắn với thị trường carbon và các tiêu chuẩn ESG.

Định hướng này phù hợp với chủ trương điều hành tín dụng ưu tiên sản xuất, nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ cao; đồng thời thúc đẩy tín dụng cho nông nghiệp sạch, hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.

Còn ThS. Trần Văn Phước, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 nhận định, tín dụng phải đi trước một bước trong tái cấu trúc nông nghiệp. Bài toán của ĐBSCL không còn là đưa thêm bao nhiêu tiền vào nông nghiệp, mà là làm thế nào để đồng vốn tạo ra một cấu trúc sản xuất mới. Khi tín dụng gắn với vùng nguyên liệu, hợp đồng bao tiêu, dữ liệu sản xuất, bảo hiểm và chế biến sâu, ngân hàng không chỉ cung cấp vốn mà còn góp phần tổ chức lại thị trường.

Nếu vẫn chủ yếu cho vay ngắn hạn theo mùa vụ và yêu cầu tài sản thế chấp truyền thống, rất khó hình thành những khoản đầu tư đủ lớn cho logistics, công nghệ sau thu hoạch, cơ giới hóa và nông nghiệp phát thải thấp.

"Tín dụng nông nghiệp thế hệ mới phải chuyển từ tư duy “cho vay một hộ” sang “tài trợ một chuỗi giá trị”, từ nhìn vào tài sản sang nhìn vào dòng tiền và dữ liệu. Khi đó, người nông dân có thể vay bằng năng lực sản xuất và uy tín của chuỗi, còn ngân hàng có thêm dữ liệu để kiểm soát rủi ro”, ThS. Trần Văn Phước cho biết.

Nông nghiệp ĐBSCL đang bước vào một giai đoạn mà lợi thế không còn nằm đơn thuần ở diện tích đất hay sản lượng. Lợi thế mới sẽ thuộc về những vùng sản xuất tổ chức tốt hơn, số hóa tốt hơn, phát thải thấp hơn và tạo ra giá trị cao hơn.

Vì thế, tín dụng nông nghiệp cũng phải đi một bước trước nhu cầu của sản xuất. Không chỉ đủ vốn cho một vụ mùa, mà phải đủ vốn cho một chu kỳ đầu tư. Không chỉ thế chấp bằng tài sản, mà phải nhìn thấy dòng tiền. Không chỉ cấp tín dụng, mà phải cùng doanh nghiệp, HTX và nông dân xây dựng chuỗi giá trị.

ĐBSCL có thể vẫn là “vựa lúa, vựa thủy sản, vựa trái cây” của Việt Nam, nhưng mục tiêu lớn hơn phải là trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp xanh và có giá trị gia tăng cao.

Và để thực hiện cuộc chuyển đổi đó, câu hỏi quan trọng nhất không phải “có bao nhiêu tín dụng?”, mà là dòng vốn đang giúp người nông dân sản xuất nhiều hơn, hay đang giúp họ tạo ra giá trị cao hơn? Đó mới là thước đo cuối cùng của một hệ thống tín dụng thực sự trở thành bệ phóng cho chuyển đổi kinh tế nông nghiệp ĐBSCL.

Thích

Tin liên quan