Xuất khẩu gạo đa dạng thị trường và nâng cao chất lượng
Xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm 2026 tăng về lượng nhưng giảm giá trị. Giá gạo thế giới đi xuống, tồn kho cao, chi phí tăng, tạo áp lực cho doanh nghiệp và người trồng lúa.
Thị trường trầm lắng, giá gạo xuất khẩu giảm
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi hiện duy trì ổn định. Cụ thể, lúa OM 18 dao động 6.000 – 6.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 khoảng 6.100 – 6.200 đồng/kg; IR 50404 ở mức 5.500 đồng/kg; OM 5451 từ 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 4218 dao động 6.000 – 6.200 đồng/kg; OM 34 khoảng 5.200 – 5.400 đồng/kg.

2 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 1,3 triệu tấn với giá trị 599,3 triệu USD, tăng 5% về khối lượng nhưng giảm 11,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Ảnh minh họa
Tại nhiều địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, giao dịch mua bán lúa đã có dấu hiệu khởi sắc, giá các loại lúa tươi nhìn chung giữ ổn định. Tuy nhiên, tại Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, hoạt động giao dịch vẫn còn chậm, giá ít biến động.
Đối với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động 8.550 – 8.700 đồng/kg; OM 380 khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.150 – 9.350 đồng/kg; CL 555 khoảng 7.900 – 8.010 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 từ 8.900 – 9.100 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo 5% tấm của Việt Nam hiện ở mức 400 – 415 USD/tấn; gạo 100% tấm khoảng 316 – 320 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 430 – 434 USD/tấn.
Dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, tháng 2/2026 Việt Nam xuất khẩu khoảng 640 nghìn tấn gạo, đạt giá trị 289,4 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo đạt 1,3 triệu tấn với giá trị 599,3 triệu USD, tăng 5% về khối lượng nhưng giảm 11,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân ước đạt 464,1 USD/tấn, giảm 15,4%.
Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm khoảng 47,6% thị phần. Trung Quốc và Ghana đứng sau với thị phần lần lượt 18,3% và 8,9%.
Tuy vậy, theo các doanh nghiệp, lượng gạo xuất khẩu tăng trong giai đoạn đầu năm chủ yếu là hàng tồn kho từ năm trước chuyển sang, trong khi các hợp đồng mới chưa thực sự dồi dào.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH SX-TM Phước Thành IV (Vĩnh Long), cho biết năm 2025 là một năm khó khăn với ngành gạo và sang năm 2026 tình hình vẫn chưa có nhiều tín hiệu khả quan. Nguyên nhân chính là lượng tồn kho tại nhiều quốc gia nhập khẩu vẫn ở mức cao. Khi dự trữ còn lớn, các doanh nghiệp nhập khẩu thường chưa vội mua hoặc chỉ ký những đơn hàng nhỏ mang tính thăm dò.
“Hiện các hợp đồng xuất khẩu mới khá chậm. Doanh nghiệp chủ yếu theo dõi diễn biến thị trường trước khi quyết định thu mua thêm lúa gạo”, ông Thành cho biết.
Bên cạnh đó, Philippines vốn là thị trường truyền thống của gạo Việt Nam đã bắt đầu mua trở lại nhưng chủ yếu là các đơn hàng nhỏ lẻ, không còn những hợp đồng lớn như trước. Tuy nhiên, một trong những áp lực lớn nhất đối với ngành gạo hiện nay là chi phí logistics và vốn tín dụng.
Theo ông Thành, tác động từ các xung đột địa chính trị tại Trung Đông đã khiến giá cước vận tải quốc tế tăng từ 10 – 30%, trong khi chi phí vận chuyển nội địa cũng tăng 10 – 20% tùy tuyến. Cùng với đó, lãi suất vay ngân hàng hiện ở mức 8 – 10%/năm khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khi thu mua và dự trữ lúa gạo.
Ngoài ra, các quy định tài chính mới yêu cầu thanh toán qua chuyển khoản trong giao dịch mua bán lúa gạo cũng gây một số trở ngại ban đầu do nhiều nông dân vẫn quen giao dịch bằng tiền mặt.
Ông Nguyễn Quang Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ, vụ Đông Xuân chiếm khoảng 50 – 55% tổng sản lượng lúa cả năm của Việt Nam. Với điều kiện thời tiết và sâu bệnh hiện nay, sản lượng vụ mùa được dự báo khá tốt. Tuy nhiên, khi nguồn cung tăng mạnh trong khi tồn kho thế giới vẫn cao, áp lực lên giá lúa gạo là điều khó tránh khỏi.
Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, thị trường lúa gạo thế giới năm 2026 được dự báo gặp nhiều khó khăn khi nguồn cung dồi dào. Dù vậy, việc Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng về sản lượng xuất khẩu cho thấy sự linh hoạt của doanh nghiệp. Tuy nhiên, giá gạo đã giảm khá mạnh. Đây là thách thức lớn đối với cả doanh nghiệp và nông dân.
Để ổn định thị trường, ông Nam cho rằng cần triển khai các chính sách thu mua tạm trữ. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất hiện nay là chi phí vốn cao. “Nếu có chính sách tín dụng ưu đãi với lãi suất khoảng 4 – 5%/năm, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn tham gia thu mua và dự trữ hơn”, ông Nam đề xuất.
Đẩy mạnh đa dạng thị trường và nâng giá trị gạo
Trước những biến động của thị trường, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành và địa phương chủ động điều hành sản xuất và tiêu thụ lúa gạo. Thủ tướng Chính phủ đã ký công điện yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các đơn vị liên quan tháo gỡ rào cản kỹ thuật, mở rộng thị trường xuất khẩu và bảo đảm đầu ra cho nông dân.
Bộ Công Thương được giao theo dõi sát tình hình cung – cầu và giá lương thực trên thị trường quốc tế, đồng thời tăng cường xúc tiến thương mại tại các thị trường lớn và tiềm năng nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Song song đó, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu các giải pháp giảm chi phí logistics và chi phí xuất khẩu, đồng thời xây dựng kế hoạch mua dự trữ gạo quốc gia để góp phần ổn định giá trong nước.
Về dài hạn, ngành lúa gạo Việt Nam đang chuyển hướng sang nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ cấu gạo xuất khẩu năm 2026 sẽ nghiêng mạnh về gạo chất lượng cao và gạo thơm, với sản lượng khoảng 5,8 triệu tấn, chiếm tới 75% tổng lượng xuất khẩu. Định hướng này phản ánh sự thay đổi trong chiến lược phát triển ngành lúa gạo: giảm dần cạnh tranh ở phân khúc gạo trắng giá thấp, thay vào đó tập trung vào các dòng gạo thơm, gạo đặc sản có giá trị cao hơn và ít chịu áp lực cạnh tranh.
Dù thị trường đầu năm 2026 chưa thực sự khởi sắc, song với lợi thế về giống lúa, chất lượng ổn định và năng lực chế biến, xuất khẩu, gạo Việt Nam vẫn được đánh giá có vị thế trên thị trường quốc tế. Theo các chuyên gia, điều quan trọng là doanh nghiệp duy trì cam kết thu mua lúa cho nông dân, chủ động nguồn lực tạm trữ và kiên định chiến lược nâng cao giá trị thay vì chạy theo sản lượng.
Bộ Công Thương cho biết, trong năm 2026 sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế quản lý đối với hoạt động xuất khẩu gạo, đồng thời phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo dõi sát sản lượng để kịp thời có giải pháp hỗ trợ tiêu thụ lúa gạo cho nông dân.
Bên cạnh đó, Bộ sẽ tăng cường đàm phán, ký kết các thỏa thuận thương mại về gạo với các thị trường đối tác, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu sang các thị trường mới. Đối với những thị trường đã có hợp tác thương mại như Singapore, các cơ quan chức năng sẽ thúc đẩy triển khai thực thi các cam kết nhằm gia tăng kim ngạch xuất khẩu.
Ngoài ra, Việt Nam hiện đã ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) với Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Anh, trong đó có các cam kết liên quan đến mặt hàng gạo. Vì vậy, việc tận dụng hiệu quả các ưu đãi từ các FTA này được xem là giải pháp quan trọng để mở rộng thị trường và nâng cao giá trị xuất khẩu gạo trong thời gian tới.















