Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Tín dụng An Giang nắm đúng mạch, bơm đúng vùng động lực

Cơ cấu tín dụng tại An Giang đang có sự chuyển dịch đáng chú ý từ sản xuất thô sang chế biến, xuất khẩu, logistics, thương mại - dịch vụ và các mô hình sản xuất xanh. Đây là “mạch dẫn” để tín dụng chuyển từ hỗ trợ thanh khoản sang kích hoạt động lực tăng trưởng kinh tế trên địa bàn.

Không chỉ tăng dư nợ, phải tăng chất lượng dòng vốn

Số liệu Báo cáo hoạt động từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 cho thấy, đến cuối tháng 8/2026, huy động vốn trên địa bàn tỉnh An Giang ước đạt 199.200 tỷ đồng, tăng 1,04% so với tháng trước và tăng 9,29% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, dư nợ tín dụng ước đạt 284.700 tỷ đồng, tăng 1,05% so với tháng 7 và tăng 4,50% so với cuối năm 2025. An Giang hiện chiếm lần lượt 67% tổng huy động và 69,2% tổng dư nợ của ngành Ngân hàng Khu vực 15.

Đây là sự tăng trưởng khá ổn định của tín dụng, nhưng điểm đáng chú ý hơn nằm ở cấu trúc dòng vốn. Tại thời điểm cuối tháng 7/2026, dư nợ khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của An Giang đạt 60.850 tỷ đồng, tăng 5,89% so với cuối năm 2025; công nghiệp và xây dựng đạt 34.016 tỷ đồng, tăng 5,62%; thương mại và dịch vụ đạt 186.868 tỷ đồng, tăng 2,24%.

Cơ cấu này cho thấy tín dụng đang bám khá sát những khu vực có khả năng tạo ra giá trị và lan tỏa rộng trong nền kinh tế. Đặc biệt, thương mại - dịch vụ tiếp tục là khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ, trong khi nông nghiệp vẫn giữ vai trò “xương sống” của nền kinh tế địa phương.

Điều này càng có ý nghĩa khi kinh tế An Giang đang chuyển động theo hướng đa động lực. Trong 8 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,79%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 24,79%, du lịch tăng 18,6%, riêng khách quốc tế tăng tới 54,2%. Tỉnh thu hút 23 dự án đầu tư mới với tổng vốn hơn 11.500 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho trên 31.500 lao động.

Như vậy, bài toán đặt ra cho tín dụng là vốn có bắt kịp tốc độ chuyển dịch của nền kinh tế hay không.

Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất là cách tiếp cận tín dụng đối với nông nghiệp. Nếu trước đây tín dụng nông nghiệp thường tập trung vào từng hộ sản xuất, từng mùa vụ và từng nhu cầu đầu vào, thì mô hình mới đang đòi hỏi ngân hàng nhìn toàn bộ chuỗi: từ vùng nguyên liệu, sản xuất, thu mua, chế biến, kho bãi, logistics đến xuất khẩu.

Đây là hướng đi đặc biệt phù hợp với An Giang - địa phương đang giữ vai trò quan trọng trong Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 cho thấy, đến cuối tháng 7/2026, dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn tại An Giang đạt 147.822 tỷ đồng, tăng 3,21% so với cuối năm 2025, tương đương 52,5% tổng dư nợ toàn tỉnh. Riêng chương trình tín dụng lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, các ngân hàng đã giải ngân tại An Giang 25.386 tỷ đồng cho 9.287 lượt khách hàng, dư nợ đạt 8.886 tỷ đồng.

Đáng chú ý hơn, chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp đang mở ra một cách tiếp cận mới: ngân hàng không chỉ tài trợ cho người sản xuất mà hướng tới cả chuỗi liên kết.

Tại An Giang, kết quả vụ Đông Xuân 2025-2026 đã nhân rộng mô hình trên 159.677 ha, đạt 86,97% kế hoạch năm; vụ Hè Thu 2026 tiếp tục duy trì 160.955 ha, đạt 87,6% kế hoạch.

Đây chính là nơi tín dụng có thể tạo ra sự khác biệt không chỉ tăng lượng vốn trên một đơn vị diện tích mà nâng giá trị tạo ra trên một đơn vị sản phẩm.

1785206939504_96648429579384322_96648429579384322_b1b2d94a67cb640d07fde38e5f8af7b4.jpg

Cơ cấu tín dụng tại An Giang đang bám khá sát những khu vực có khả năng tạo ra giá trị và lan tỏa rộng trong nền kinh tế. Ảnh: Trần Trọng Triết

Bắt đúng “địa chỉ” của động lực mới

Cùng với lúa gạo, thủy sản, chế biến và xuất khẩu tiếp tục là những “địa chỉ” quan trọng của dòng vốn. Tại An Giang, dư nợ ngành lúa gạo đến cuối tháng 6/2026 đạt 32.297 tỷ đồng, tăng 4,39% so với cuối năm 2025. Dư nợ ngành thủy sản đạt 43.986 tỷ đồng, tăng 1,83%. Trong đó, dư nợ cho vay tôm tăng 8,82%, lên 6.259 tỷ đồng, dù dư nợ cá tra giảm 13,6%.

Những con số này cho thấy một thực tế đáng suy nghĩ: Tín dụng đang phải thích ứng với quá trình sàng lọc của thị trường. Không phải ngành hàng nào tăng trưởng tín dụng cũng đồng nghĩa tăng trưởng hiệu quả; ngược lại, việc giảm dư nợ ở một số phân khúc có thể phản ánh quá trình tái cơ cấu, lựa chọn lại doanh nghiệp và mô hình sản xuất có khả năng cạnh tranh tốt hơn.

Đây cũng là lúc ngân hàng cần chuyển mạnh từ tư duy “tài sản bảo đảm” sang đánh giá dòng tiền và năng lực tạo dòng tiền.

Đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tài sản thế chấp thường là điểm nghẽn. Trong khi đó, doanh nghiệp có hợp đồng đầu ra, có đơn hàng xuất khẩu, có dòng tiền ổn định trong chuỗi cung ứng nhưng thiếu bất động sản thế chấp vẫn có thể là khách hàng tín dụng tốt.

Báo cáo hoạt động tháng 8/2026 cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng cần linh hoạt hơn trong thẩm định dựa trên dòng tiền hợp đồng, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản bảo đảm.

Một điểm đáng chú ý khác là động lực tăng trưởng của An Giang đang mở rộng ra ngoài nông nghiệp. Trong 8 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp tăng 13,79%, bán lẻ và dịch vụ tăng 24,79%, du lịch tăng 18,6%. Đây là tín hiệu cho thấy nhu cầu vốn đang dịch chuyển cùng quá trình đa dạng hóa nền kinh tế.

Tại các khu công nghiệp, 7 tháng đầu năm 2026, doanh thu doanh nghiệp đạt khoảng 11.323 tỷ đồng, tăng 7%; kim ngạch xuất khẩu đạt 384 triệu USD, tăng 13%; vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 2.026 tỷ đồng, bằng 149% kế hoạch năm.

Điều này mở ra dư địa đáng kể cho tín dụng doanh nghiệp, nhất là vốn lưu động phục vụ sản xuất - xuất khẩu, đầu tư máy móc, công nghệ, kho lạnh, logistics và các dự án nâng cao năng lực chế biến.

Với du lịch, sức tăng của thị trường cũng đang tạo thêm nhu cầu tín dụng cho hạ tầng lưu trú, dịch vụ, vận tải và hệ sinh thái thương mại. Dịp Quốc khánh 2/9 vừa qua, An Giang đón hơn 580.000 lượt khách, tăng 40,3% so với cùng kỳ.

Nói cách khác, “địa chỉ” của tín dụng đang rộng hơn. Nhưng rộng không đồng nghĩa với dàn trải. Thách thức là phải lựa chọn được những dự án có khả năng tạo năng suất, việc làm, xuất khẩu và nguồn thu bền vững.

Tín dụng xanh từ xu hướng thành yêu cầu bắt buộc

Một mạch tăng trưởng khác không thể bỏ qua là tín dụng xanh, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh tại An Giang đạt 841 tỷ đồng, tăng tới 55,44% so với cuối năm 2025, tuy quy mô hiện chưa lớn, nhưng tốc độ tăng cho thấy nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh đang hình thành rõ hơn.

Đây sẽ là một trong những phép thử quan trọng đối với ngân hàng trong những năm tới. Các doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng phải đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và ESG. Nếu tín dụng chỉ tài trợ cho năng lực sản xuất hiện tại mà không tài trợ cho quá trình chuyển đổi công nghệ, doanh nghiệp có thể tăng trưởng trong ngắn hạn nhưng khó giữ thị trường dài hạn.

Vì vậy, tín dụng xanh không nên được nhìn như một “phân khúc cộng thêm”, mà phải trở thành một phần của chiến lược tín dụng mới.

ThS. Trần Văn Phước, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 nhận định, động lực tăng trưởng không nằm ở lượng vốn, mà ở khả năng biến vốn thành giá trị. Điểm quan trọng nhất của tín dụng An Giang hiện nay là phải tạo được sự kết nối giữa ngân hàng và chuỗi giá trị. Nếu vốn chỉ dừng ở khâu sản xuất hoặc thu mua nguyên liệu thì giá trị gia tăng giữ lại tại địa phương sẽ hạn chế. Ngược lại, khi ngân hàng đồng hành từ vùng nguyên liệu đến chế biến, logistics và xuất khẩu, dòng vốn có khả năng tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn hơn.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần đẩy mạnh phương thức thẩm định dựa trên dòng tiền, hợp đồng đầu ra và sức khỏe của chuỗi cung ứng. Đây là cách mở rộng khả năng tiếp cận vốn mà vẫn kiểm soát được rủi ro.

Điều đáng mừng là tín dụng An Giang đang tăng trưởng ổn định, nhưng thách thức phía trước không nhỏ.

Thứ nhất là khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp, đặc biệt SME. Thứ hai là biến động thị trường xuất khẩu và các yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn xanh. Thứ ba là nguy cơ vốn tăng nhưng giá trị gia tăng không tăng tương ứng nếu vẫn tập trung quá nhiều vào khâu sản xuất và thương mại ngắn hạn.

Bởi vậy, nhiệm vụ của ngành Ngân hàng trên địa bàn tỉnh trong những tháng cuối năm không nên chỉ là thúc đẩy tăng trưởng dư nợ. Quan trọng hơn là định vị lại dòng vốn theo các cực tăng trưởng mới của tỉnh.

Đó là nông nghiệp công nghệ cao và chuỗi lúa gạo phát thải thấp; thủy sản và chế biến sâu; công nghiệp; thương mại - dịch vụ; du lịch; kinh tế cửa khẩu; logistics và các dự án xanh.

An Giang đang có những tín hiệu tăng trưởng khá rõ. Vấn đề còn lại là làm sao để dòng vốn ngân hàng đi trước một bước nhưng không đi chệch hướng.

Bởi xét đến cùng, một đồng tín dụng chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi nó tạo ra thêm một đồng giá trị mới, một việc làm mới, một đơn hàng xuất khẩu mới hoặc một năng lực sản xuất mới. Đó cũng chính là thước đo cao hơn của tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn mới: không phải bơm vốn nhiều hơn, mà bơm đúng mạch để nền kinh tế chạy nhanh hơn và bền vững hơn.

Tin liên quan