Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hạt gạo Việt tìm chỗ đứng bằng chất lượng và phát thải thấp

Sức ép từ giá cả và các tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng khắt khe đang thúc đẩy ngành lúa gạo chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải.

Phân khúc chất lượng cao giữ lợi thế

Những tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo Việt Nam đối mặt với áp lực giảm giá khi thị trường thế giới điều chỉnh sau giai đoạn tăng nóng. Tuy nhiên, diễn biến này không phản ánh toàn bộ bức tranh của ngành hàng lúa gạo.

Đến nay đã có khoảng 70.000 tấn gạo được cấp nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” và xuất khẩu sang Nhật Bản, châu Âu và châu Úc. Ảnh minh họa

Đến nay đã có khoảng 70.000 tấn gạo được cấp nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” và xuất khẩu sang Nhật Bản, châu Âu và châu Úc. Ảnh minh họa

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 2,3 triệu tấn gạo từ đầu năm đến nay. Đáng chú ý, nhóm gạo chất lượng cao như Đài Thơm 8, OM18 chiếm gần 50% tổng lượng xuất khẩu, cho thấy nhu cầu đối với gạo thơm, gạo chất lượng cao của Việt Nam vẫn duy trì ổn định.

Đây là kết quả của quá trình tái cơ cấu ngành lúa gạo nhiều năm qua, khi chất lượng giống được nâng lên, cơ cấu sản phẩm chuyển mạnh sang gạo thơm, gạo đặc sản, vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản hơn và khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn ngày càng tốt.

Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh hiện nay không còn nằm chủ yếu ở năng suất hay giá bán. Các thị trường nhập khẩu lớn và cao cấp như EU, Nhật Bản, Mỹ đang đặt ra những yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và phát thải carbon.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho hay, người mua hiện không chỉ quan tâm sản phẩm có giá bao nhiêu mà còn quan tâm hạt gạo được sản xuất như thế nào, có minh bạch nguồn gốc hay không và có đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững hay không. Điều đó buộc ngành lúa gạo Việt Nam phải thay đổi tư duy phát triển. Thay vì chạy theo sản lượng, mục tiêu mới là nâng cao chất lượng, giảm chi phí sản xuất, giảm phát thải và gia tăng giá trị.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau hai năm triển khai thí điểm Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, những chuyển biến đã bắt đầu hiện hữu. Nông dân giảm lượng giống gieo sạ, tiết kiệm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, giảm nước tưới, tăng cơ giới hóa và tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác xã, liên kết chuỗi.

Một dấu mốc đáng chú ý là từ hơn 400 tấn “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” đầu tiên xuất khẩu sang Nhật Bản vào giữa năm 2025, đến nay đã có khoảng 70.000 tấn gạo được cấp nhãn hiệu này và xuất khẩu sang Nhật Bản, châu Âu và châu Úc.

70.000 tấn chưa phải quá lớn so với tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, nhưng mang ý nghĩa đặc biệt. Con số này cho thấy hạt gạo Việt Nam đã bắt đầu vượt qua những tiêu chuẩn mới của thị trường toàn cầu, nơi phát thải carbon đang dần trở thành một tiêu chí cạnh tranh quan trọng không kém chất lượng hay giá cả. Thực tế này cũng khẳng định một xu hướng rõ nét: Việt Nam đang từng bước chuyển từ vị thế quốc gia xuất khẩu gạo số lượng lớn sang nhà cung cấp gạo chất lượng cao, gạo xanh và có trách nhiệm với môi trường.

Chuyển đổi xanh trở thành “tấm hộ chiếu” vào thị trường cao cấp

Nếu trước đây chuyển đổi xanh được xem là câu chuyện môi trường, thì hiện nay đây đang trở thành yêu cầu sống còn đối với ngành nông nghiệp xuất khẩu. Theo báo cáo kiểm kê khí nhà kính, lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam phát thải gần 90 triệu tấn CO₂ tương đương mỗi năm. Riêng canh tác lúa nước chiếm khoảng 45 triệu tấn, tương đương một nửa tổng phát thải của toàn ngành. Điều đó lý giải vì sao giảm phát thải trong sản xuất lúa gạo đang được xem là trọng tâm của chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững.

Theo ông Lý Việt Hùng, Trưởng phòng Kinh tế trung hòa carbon (Cục Biến đổi khí hậu), Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước nghịch lý lớn. Đây vừa là vùng chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, vừa là khu vực có lượng phát thải đáng kể từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống. "Con đường duy nhất để phát triển bền vững là chuyển sang mô hình sản xuất phát thải thấp thông qua số hóa, quản lý nước thông minh, giống cây trồng thích ứng và phát triển kinh tế tuần hoàn", ông Hùng nhấn mạnh.

Trên thực tế, những công nghệ từng được xem là xa vời với người nông dân như cảm biến môi trường, drone nông nghiệp, bản đồ số vùng nguyên liệu, nền tảng truy xuất nguồn gốc hay hệ thống tưới ngập khô xen kẽ (AWD) đang dần trở thành công cụ thiết yếu của nền nông nghiệp hiện đại.

Ở góc độ doanh nghiệp, câu chuyện của gạo ST25-Techpal cho thấy giá trị thực sự của chuyển đổi xanh và truy xuất nguồn gốc. Từ vùng nguyên liệu được kiểm soát chặt chẽ, sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP và kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia, sản phẩm đã tạo được chỗ đứng tại các hệ thống bán lẻ cao cấp ở Australia. Không chỉ giúp bảo vệ thương hiệu trước tình trạng hàng giả, mô hình này còn nâng giá trị gia tăng cho sản phẩm và mang lại thu nhập tốt hơn cho nông dân thông qua cơ chế bao tiêu với giá cao hơn thị trường.

Trong khi đó, các nghiên cứu của Trường Nông nghiệp - Đại học Cần Thơ cũng cho thấy nông nghiệp carbon thấp không đồng nghĩa với giảm hiệu quả kinh tế. Ngược lại, các mô hình luân canh cây trồng, quản lý nước thông minh hay xử lý rơm rạ theo hướng tuần hoàn đều giúp gia tăng lợi nhuận đồng thời giảm đáng kể phát thải khí nhà kính.

Tuy nhiên, chuyển đổi xanh sẽ khó tạo đột phá nếu không tháo gỡ được những điểm nghẽn về vốn, đất đai, hạ tầng, nhân lực, công nghệ và thị trường. Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, đây cũng là lý do ngành nông nghiệp đang thúc đẩy tổ chức lại sản xuất theo chuỗi liên kết “5 nhà” gồm nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý.

Trong mô hình này, hợp tác xã trở thành nền tảng tổ chức sản xuất, doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt thị trường, còn Nhà nước đảm nhiệm việc xây dựng tiêu chuẩn, giám sát chất lượng và hỗ trợ kết nối. Xa hơn, việc số hóa toàn bộ quá trình sản xuất từ nhật ký đồng ruộng, mã số vùng trồng, quản lý vật tư đầu vào đến truy xuất nguồn gốc sẽ tạo nên hệ sinh thái dữ liệu minh bạch cho ngành lúa gạo.

Khi các thị trường nhập khẩu ngày càng coi trọng truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và tính bền vững của sản phẩm, lợi thế cạnh tranh của hạt gạo không còn được quyết định chủ yếu bởi giá bán hay sản lượng. Đối với Việt Nam, những lô hàng mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” cho thấy ngành lúa gạo đang từng bước chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Đây không chỉ là yêu cầu của thị trường mà còn là hướng đi cần thiết để nâng cao vị thế hạt gạo Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Giá gạo xuất khẩu giảm so với giai đoạn đỉnh cao 2023 - 2024, nhưng gạo chất lượng cao của Việt Nam vẫn giữ được vị thế trên các thị trường khó tính.

Nguyễn Hạnh
Thích

Tin liên quan