Giá cà phê trong nước giảm
Khảo sát tại các vùng trồng cà phê trọng điểm sáng 9-10 cho thấy thị trường đồng loạt điều chỉnh giảm mạnh, đưa giá thu mua robusta nhân xô xuống khoảng 92.200 - 93.000 đồng/kg.
Tại Lâm Đồng, giá cà phê giảm 1.400 đồng/kg, xuống còn 93.000 đồng/kg. Dù giảm sâu, đây vẫn là khu vực có mức thu mua cao nhất trong các địa phương được khảo sát.
![]() |
| Ảnh minh họa/qdnd.vn |
Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức giảm tương tự, đưa giá cà phê xuống 92.800 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất, hiện đạt 92.200 đồng/kg, giảm 1.400 đồng/kg so với phiên trước.
Như vậy, chỉ sau một phiên, toàn bộ mức tăng ghi nhận trước đó đã bị thu hẹp đáng kể. Mốc 94.000 đồng/kg không còn xuất hiện tại các vùng nguyên liệu được khảo sát, trong khi mức giá thấp nhất đã lùi xuống gần 92.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê thế giới quay đầu giảm mạnh sau chuỗi phiên tăng liên tiếp.
Tại sàn London, hợp đồng cà phê Robusta giao tháng 11-2026 giảm 108 USD/tấn, tương đương 3,02%, xuống còn 3.485 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1-2027 giảm 104 USD/tấn, tương đương 2,92%, đạt 3.469 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 3-2027 giảm 11,75 US cent/pound, tương đương 3,86%, xuống còn 292,7 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 5-2027 cũng giảm 10,95 US cent/pound, tương đương 3,7%, xuống còn 284,9 US cent/pound.
Giá tiêu đồng loạt giảm so với phiên trước
Khảo sát tại các vùng trồng hồ tiêu trọng điểm cho thấy giá thu mua sáng 9-10 đồng loạt giảm so với phiên trước, đưa mặt bằng giao dịch xuống khoảng 135.500 - 139.000 đồng/kg.
Trong đó, Lâm Đồng ghi nhận mức giảm mạnh nhất, mất 1.500 đồng/kg, xuống còn 139.000 đồng/kg. Dù vậy, đây vẫn là địa phương có giá thu mua hồ tiêu cao nhất trong các khu vực được khảo sát.
Tại Đắk Lắk, giá tiêu giảm 1.000 đồng/kg, xuống 137.500 đồng/kg. TP Hồ Chí Minh cũng điều chỉnh tương ứng, hiện được thu mua ở mức 136.000 đồng/kg.
Ở Gia Lai và Đồng Nai, giá tiêu cùng giảm 1.000 đồng/kg, xuống 135.500 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương khảo sát.
Đáng chú ý, sau nhiều phiên liên tiếp duy trì trạng thái ổn định, thị trường hồ tiêu nội địa đã xuất hiện nhịp điều chỉnh tương đối rõ rệt. Mức giá cao nhất giảm xuống dưới ngưỡng 140.000 đồng/kg, trong khi mức thấp nhất chỉ còn 135.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam cũng ghi nhận xu hướng giảm. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Việt Nam loại 550 g/l giảm 80 USD/tấn, tương đương 1,32%, xuống còn 5.995 USD/tấn. Loại 500 g/l giảm 20 USD/tấn, tương đương 0,34%, còn 5.950 USD/tấn.
Ngược chiều, giá tiêu đen Indonesia tăng nhẹ 6 USD/tấn, lên 6.834 USD/tấn. Tại Malaysia, giá tiêu đen duy trì ở mức 9.200 USD/tấn, trong khi tiêu đen ASTA 570 của Brazil ổn định tại 5.800 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 9 USD/tấn, đạt 9.357 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu Việt Nam giữ mức 8.450 USD/tấn, còn Malaysia duy trì 12.100 USD/tấn.
Giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.200 - 6.300 đồng/kg
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 5.900 - 6.000 đồng/kg, lúa tươi OM 5451 dao động mốc 6.000 - 6.100 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch lúa Thu Đông mới vẫn chậm, giá lúa vững. Tại An Giang, lúa Thu Đông giao dịch mới ít, giá lúa ít biến động. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cà Mau giao dịch mua bán mới ít, giá lúa tương đối ổn định.
Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Giá các loại phụ phẩm tăng so với hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm tăng 100 đồng/kg, lên 9.000 - 9.100 đồng/kg; giá cám tăng 100 đồng/kg, dao động 7.600 - 7.800 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo OM 18 hôm nay giảm 500 đồng/kg dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.500 - 17.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.



